Môn Đồ Hóa Dựa Trên Sự Vâng Phục

Zane Pratt Môn Đồ Hóa (Go to PDF)

MÔN ĐỒ HÓA DỰA TRÊN SỰ VÂNG PHỤC

(Obedience-Based Discipleship/OBD)

Tác giả Zane Pratt

Được xuất bản trên trang www.GlobalMissiology.org vào tháng 7 năm 2015

 

Môn đồ hóa dựa trên sự vâng phục là một đặc điểm quan trọng trong phương thức truyền giáo hiện nay. Nói cách đơn giản, môn đồ hóa dựa vào sự vâng phục nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giáo dục con người vâng phục theo Kinh Thánh hơn là chỉ dạy họ về nội dung của Kinh Thánh. Những người đề xướng phương pháp này tự nhận thấy họ chính là những người hiệu chỉnh khuynh hướng truyền giáo phúc âm nhấn mạnh đến việc môn đồ hóa dựa vào kiến thức Kinh Thánh, trong đó, người ta được dạy nội dung của Kinh Thánh, thần học truyền giáo phúc âm (evangelical theology) và cũng có thể được dạy thần học biện giáo (apologetics) nhưng không được dạy về một đời sống vâng phục tuân theo mạng lệnh của Đấng Christ. Những người tán thành môn đồ hóa dựa trên sự vâng phục cho rằng các phương pháp khác không vâng phục Kinh Thánh và cản trở sự tiến bộ của phúc âm. Phương pháp này phát triển như thế nào? Và những nhận định này nên được đánh giá ra sao?

Mạng lệnh thuộc Đại Mạng Lệnh trong Ma-thi-thơ 28:16-20 là “hãy đi môn đệ hóa.” Điều này được thấy cách rõ ràng trong Bản Dịch Kinh Thánh Tiếng Anh Hiện Đại. Tuy nhiên, trong bản King James Version (KJV, bản dịch Kinh Thánh có sự đóng góp của vua James 1 của Anh) nói rằng “hãy đi dạy dỗ muôn dân” và vì phiên bản Kinh Thánh này bị chi phối bởi tư tưởng của thế giới Cơ Đốc Giáo nói tiếng Anh trong suốt hơn 350 năm (bao gồm thời kỳ mở đầu của phong trào truyền giáo hiện đại) nên bản dịch này bị ảnh hưởng nhiều đến những người thi hành chức vụ truyền bá phúc âm (evangelical ministry) và truyền giáo học (missiology) cho đến tận vài thập niên gần đây.

Sự tăng trưởng trong các hội thánh Liên Hiệp (Giáo Hội) Báp-tít Nam Phương (Southern Baptist Convention churches) ở giữa thập kỷ 20, không ai đề cập đến môn đồ hóa cho đến những năm 1970. Trước đó, các hội thánh đã tổ chức Trường Chúa Nhật vào sáng Chủ Nhật, Kết Hợp Huấn Luyện vào các buổi tối Chủ Nhật và cả hai đều hoạt động theo mô hình giáo dục dựa trên thông tin. Mong đợi đạo đức được truyền đạt bởi sự dạy dỗ từ gia đình và các chuẩn mực xã hội và tôn giáo được thể hiện bởi những hợp tiền dâng. Rõ ràng, có nghĩa rằng một Cơ Đốc Nhân tốt thì phải có mặt trong Trường Chủ Nhật, mang theo Kinh Thánh khi đến nhà thờ, đọc Kinh Thánh hằng ngày, dâng hiến tiền bạc và nhóm Trường Chúa Nhật, rồi sang nhóm buổi nhóm thờ phượng. Nếu bạn là một Cơ Đốc nhân nghiêm túc thì bạn phải tham gia Nhóm Huấn luyện và buổi nhóm tối chủ nhật và các Cơ Đốc nhân THẬT SỰ nghiêm túc sẽ tham gia buổi cầu nguyện tối thứ 4. Hiển nhiên, nhiều tín hữu phát triển mối quan hệ sâu sắc với Đấng Christ và sống đời sống tin kính Chúa trong hệ thống này. Tuy nhiên, không ai gọi đó là môn đồ hóa và sự rao truyền thông tin là mô hình căn bản trong việc giáo dục Cơ Đốc.

Trong khi đó, trong thế giới phi hệ phái (parachurch), môn đồ hóa là một yếu tố rõ ràng trong chức vụ Cơ Đốc đã và đang được phát triển. Các hội thánh như Intervarsity Christian Fellowship và Navigators nhấn mạnh đến sự cần thiết giảng dạy Kinh Thánh kèm với sự rèn luyện các kỷ luật thuộc linh. Trong Mô Hình Bánh Xe nổi tiếng của hội thánh Navigators, cuộc sống quân bình của một Cơ Đốc Nhân phải lấy Đấng Christ-trục của bánh xe làm trung tâm và căm bánh xe bao gồm như việc học Kinh Thánh, cầu nguyện, thông công với các tín đồ khác và truyền giảng. Hội thánh Intervarsity liệt kê những điểm nhấn mạnh chính yếu của họ là truyền giảng, môn đồ hóa và truyền giáo. Những người thi hành chức vụ và trong các phi hệ phái này (parachurch) cũng như các Cơ Đốc Nhân bình thường khác cho rằng họ có thể tự nghiên cứu Kinh Thánh và học trong các nhóm nhỏ, dành thời gian tỉnh nguyện học Kinh Thánh và cầu nguyện, học thuộc lòng Kinh Thánh, biết cách chia sẻ phúc âm với những người chưa tin Chúa (và thực tế làm chứng), và thường xuyên gặp các tín hữu khác để thờ phượng, khích lệ và thông công. Mô hình môn đồ hóa này kết hợp sự hiểu biết Kinh Thánh cùng với việc phát triển, sử dụng những kỹ năng như nghiên cứu Kinh Thánh theo phương pháp quy nạp, học thuộc lòng Kinh Thánh và kỹ năng làm chứng. Một số hình thức thông công của Cơ Đốc nhân được mong đợi nhưng vẫn còn hạn chế trong việc nhấn mạnh vai trò của các hội thánh ở địa phương.

Theo thời gian, các chương trình môn đồ hóa đã khám phá ra phương cách vào tổ chức hội thánh. Một số chương trình chuyên biệt trong lãnh vực đời sống Cơ Đốc, ví dụ như Evangelism Explosion (tạm dịch Truyền Giáo Bùng Nổ) được khởi xướng bởi tiến sĩ James Kennedy tại hội thánh Trưởng Lão Coral Ridge Presby Ft. Lauderdale, bang Florida nước Hoa Kỳ. Các chương trình khác có phạm vi rộng hơn chẳng hạn như chương trình MasterLife (ban đầu được phát triển bởi Avery Willis trong cánh đồng truyền giáo ở Inđônêsia trong những năm 1970) được giới thiệu đến Bắc Mỹ vào những những năm 1980. Tuy nhiên, việc đào tạo mục sư tiếp tục là nhiệm vụ mang tính chất học thuật. Trong khi thật ra việc giáo dục thần học cổ điển gồm huấn luyện các kỹ năng trong một thời gian dài trong việc giảng lời chúa, kỹ năng tư vấn mục sư và Cơ Đốc giáo dục và các môn học chính yếu trong khóa học bao gồm giảng dạy trên lớp học hoàn toàn liên qua đến nhận thức thiên nhiên. Hệ thống giáo dục của thế giới phương Tây và truyền thống giáo dục Cơ Đốc trong hội thánh và sự huấn luyện học thuật trong các khóa hội thảo tất cả hoạt động tạo nên khuôn mẫu tăng trưởng Cơ Đốc nhân đó là chú trọng nặng vào các khía lien quan đến nhận thức.

Ví dụ đầu tiên về môn đồ hóa dựa trên sự vâng phục đến từ công trình của George Patterson và Richard Scroggins. Trong cuốn sách nổi tiến tựa đề, Church Multiplication Guide[1] (tạm dịch Hướng dẫn Nhân Rộng Hội Thánh), Patterson và Scroggins đưa ra một lời kêu gọi thiết tha cho môn đồ hóa tập trung vào sự vâng phục mạng lệnh của Đấng Christ. Phần đầu quyển sách, họ nói rằng “điều quan trọng nhất để nhân cấp hội thánh là vâng phục Đức Chúa Giê-su Christ trong đức tin như con trẻ và yêu thương”.[2] Các mạng lệnh trong suy nghĩ của họ là các mạng lệnh mà họ đã tìm thấy rõ trong phúc âm đến từ lời nói của Chúa Giê-su và họ liệt kê các mạng lệnh như sau: Ăn năn, tin, và tiếp nhận Đức Thánh Linh, làm phép báp-tem, yêu thương, bẻ bánh, cầu nguyện, ban cho và khiến người khác trở thành môn đồ.[3] Hơn một phần ba cuốn sách dành riêng để giải thích các mạng lệnh này.

Có 2 điểm nhấn mạnh về sự vâng phục này giống như nền tảng của môn đồ hóa cần được chú ý. Trước tiên, họ ưu tiên cho các mạng lệnh của Chúa Giê-su trên các phần Tân Ước còn lại. “Chúng ta cũng vâng phục Đức Chúa Giê-su khi chúng ta tuân theo các các mạng lệnh sứ đồ của Ngài. Họ nói và viết với uy quyền mặc khải của Chúa Giê-su. Tuy nhiên, các mạng lệnh trong các thơ tín của họ không phải là căn bản. Nó không phải là nền tảng (nền móng) của tỏa nhà. Chúng thuộc câu chuyện thứ 2 và các câu chuyện sau đó dành cho những người lãnh đạo và những tín đồ đã được làm phép báp-tem và ở dưới sự chăm sóc của hội thánh.”[4] Khẳng định kinh điển này là một luật lệ bên trong đã được đề xuất bởi những người khác[5] nhưng nó gây ra rất nhiều tranh luận và nhiều người thấy điều đó xảy ra vấn đề. Tuy nhiên, nó không phải là phần thiết yếu đối với khái niệm môn đồ hoá dựa trên sự vâng phục và những người chia sẽ phương pháp này không chia sẽ sự ưu tiên về những lời dạy thật sự của Đức Giê-su trong các bài viết của các sứ đồ. Thứ 2, Patterson và Scroggins nhấn mạnh sự vâng phục song song và ngay cả vượt trên những kiến thức thần học. “Nhấn mạnh về việc dạy giáo lý như là nền tảng đầu tiên, mà không có sự áp dụng tương ứng của việc vâng phục yêu thương phản ánh sự lý luận méo mó của chủ nghĩa cá nhân của phương Tây vào thế kỷ 20, không phải thần học của Vương Quốc. Đối với tín đồ mới, không gì vượt lên trên sự yêu thương, trung thành và sự vâng phục ngây ngô như con trẻ dành cho Đức Chúa Trời yêu kính.”[6] Họ tiếp tục cảnh báo “Chúng ta đe doạ cuộc sống thiêng liêng của một đứa bé sơ sinh trong Đấng Christ nếu chúng ta ép chúng ăn “miếng thịt lớn” của các giáo lý Kinh Thánh chi tiết trước khi họ học sự vâng phục căn bản trong tình yêu thương. Điều đó đem đến niềm tự cao.”[7]

Khi thảo luận về huấn luyện lãnh đạo, Patterson và Scroggins cẩn thận ghi chú rằng họ ủng hộ giáo dục hoc thuật chính thức.[8] Tuy nhiên, kể cả đóng góp của Peterrson vào sự phát triển của nền giáo dục thần học bởi sự mở rộng của Honduras, không có gì ngạc nhiên khi họ nhấn mạnh vào các khuôn mẫu giảng dạy các khuôn mẫu đào tạo mục sư không truyền thống và thậm chí họ còn giải thích lời ghi chú rằng:

“Nếu chúng ta giảng dạy nặng về các giáo lý Kinh Thánh trước khi ai đó học sự vâng phục, yêu thương, đơn sơ như một đứa trẻ, thì chúng ta huỷ hoại sự kết ước kết của người đó đối với Đấng Christ… Chúng ta cố gắng tránh việc bị tê liệt xuất phát từ việc giảng dạy các nhà lãnh đạo tiềm năng về các giáo lý nặng nề của Kinh Thánh trước khi họ có thể áp dụng chúng và học sống trong sự vâng phục yêu thương, đơn sơ như một đứa trẻ.”[9]

Trọng tâm đã rõ. Giáo lý Kinh Thánh thì “nặng nề” và nó có thể nguy hiểm. “Đơn sơ, vâng phục, yêu thương giống như một đứa trẻ” là mục tiêu cả hai của việc môn đồ hóa và huấn luyện lãnh đạo.

Môn đồ hóa dựa trên sự vâng phục là bí quyết để nhân nhân rộng hội thánh hiện đang phổ biến rộng rãi giữa vòng các nhà truyền giáo nói chung và giữa vòng những người làm việc tại Southern Baptist International Mission Board (IMB) (tạm dịch Liên Hiệp Báp-tít Nam Phương–Hội Truyền Giáo Quốc Tế) nói riêng. Nó tạo thành một trong số các mẫu nền tảng “đào tạo các nhà huấn luyện” (T4T: Training for Trainers), thấu hiểu phương pháp truyền giáo, môn đồ hóa, nhân rộng hội thánh và việc huấn luyện lãnh đạo được sử dụng rộng rãi bởi những người làm việc trong IMB. Phương pháp này được phát triển bởi Ying Kai và Steve Smith ở Đông Á, và hiện được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Cả hai người này nói rõ phương pháp của họ đối với T4T: A Discipleship Re-Revolution (tạm dịch Cải Cách Cách Mạng Môn Đồ Hóa),[10] trong nỗ lực đặt nền móng cho phương pháp này trong triết lý rộng hơn và nhấn mạnh vào các tiến trình mà các thành phần riêng biệt của phương pháp phải được sử dụng. Ngay từ ban đầu, tác giả hoàn toàn nói rõ rằng môn đồ hóa dựa vào sự vâng phục là phần chính trong phương pháp của họ. “Sự vâng phục là dấu hiệu của môn đồ hóa thật. Những môn đồ vâng phục không phải những người chỉ đưa ra sự tán thành bằng lời nói mà phải thật sự tuân theo những gì Cha đã ban lệnh. T4T được xây dựng trên khuôn mẫu môn đồ hoá dựa trên sự vâng phục. Các môn đồ tiến bộ hơn khi họ tuân theo từng bài học Kinh Thánh.”[11]

Giống như Patterson và Scroggins, Steve Smith và Ying Kai đưa ra sự tương phản rõ ràng giữa môn đồ hóa dựa vào kiến thức và môn đồ hóa dựa vào sự vâng phục. Trong phần được đặt tên là “Sự trưởng thành dựa trên kiến thức và dựa trên sự vâng phục”, họ viết “một số người thi hành chức vụ Cơ Đốc, chúng ta đánh giá sự trưởng thành của các tín đồ ra sao dựa trên họ biết bao nhiêu. Nhưng Tân Ước lại đánh giá sự trưởng thành của tín hữu dựa trên việc họ vâng phục bao nhiêu (ví dụ trong Giăng 14:15; Gia-cơ 1:22-25).[12]

Việc nhấn mạnh vào sự vâng phục kèm với sự cam kết đối với trách nhiệm khai trình xuyên suốt trong suốt cuốn sách và lan tỏa vào từng khía cạnh của phương pháp T4T. Sự lĩnh hội kiến thức phụ thuộc vào việc thực hành sự vâng phục. Thậm chí trong việc huấn luyện kỹ năng lãnh đạo,[13] nhấn mạnh chú trọng đến sự vâng phục chứ không phải sự nhạy bén về thần học hay sự giáo dục học thuật. Trong bộ ba của mô hình giáo dục cổ điển “Be – Know – Do” (hiện hữu, biết và làm), môn đồ hóa dựa vào sự vâng phục ưu tiên “Do” (làm) là giá trị cao nhất.

Môn đồ hóa dựa vào sự vâng phục nên được đánh giá như thế nào? Điều đầu tiên phải được kể đến là sự vâng phục chính là yếu tố thiết yếu, không thể bàn cãi về thành phần môn đồ hóa theo quan điểm của Kinh Thánh. Đức Chúa Giê-su đã làm rõ điều này. Trong bài giảng trên núi, Ngài dạy “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rẳng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi.” (Ma-thi-thơ 7:21). Đức Chúa Giê-su dạy rằng hãy kính mến Đức Chúa Trời là điều răn đầu tiên và to lớn nhất (Mác 12:28-31) và Ngài đã kết nối tình yêu thương và sự vâng phục bằng cách nói “Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta.” (Giăng 14:15). Khi Đức Giê-su đưa ra mạng lệnh môn đồ hoá muôn dân trong Đại Mạng Lệnh, Ngài đã giải thích các môn đồ rõ ràng trong các thuật ngữ dạy sự vâng phục đối với hết thảy những gì Ngài đã ban lệnh (Ma-thi-thơ 28:18-20). Sứ đồ Lu-ca kết nối sự vâng phục với sự biến đổi của Cơ đốc nhân khi Ngài báo rằng “Cũng có rất nhiều thầy tế lễ vâng theo đạo nữa.” (Công vụ các sứ đồ 6:7).

Sứ đồ Phao-lô, người vô địch vĩ đại về sự công bình bởi đức tin ngoài các công việc luật pháp, kết nối sự vâng phục và đức tin giống như hiện tượng không thể tách rời trong phần mở đầu của thơ tín của ông gởi đến Rô-ma, “Chúng ta đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, để đem mọi dân ngoại đến với sự vâng phục của đức tin, vì danh Ngài,” Rô-ma 1:5, và cũng giống như sứ đồ Lu-ca, ông cũng kết nối sự vâng phục và sự biến đổi sau này trong cùng bức thư đó “Vì tôi chẳng dám nói những sự khác hơn sự mà Đấng Christ cậy tôi làm ra để khiến dân ngoại vâng phục Ngài, bởi lời nói và bởi việc làm,” (Rô-ma 15:18).  Phao-lô bị từ chối kịch liệt rằng phúc âm của sự cứu rỗi bởi ân điển chỉ thông qua đức tin sẽ dẫn tới cuộc sống không vâng phục (Rô-ma 6-8) nhưng  ông thà mong đợi Phúc Âm sẽ dẫn đến đời sống tăng trưởng thánh khiết. Ông cũng mong đợi rằng các đọc giả sẽ tuân theo những gì ông đã dạy trong quá khứ và những gì ông đã viết trong các thư tín của ông (Ga-la-ti 5:7, Phi-líp 2:12, II Thê-sa-lô-ni-ca 3:14). Sứ đồ Gia-cơ (Gia-cơ 1:22-25, 2:14-26) và sứ đồ Phi-e-rơ (I Phi-e-rơ 1:1-2) cũng kỳ vọng vào sự vâng phục như là một phần trong cuộc sống của các Cơ Đốc Nhân. Sứ đồ Giăng còn liên kết sự đảm bảo được cứu rỗi với sự vâng phục Chúa Trời (I Giăng 2:3–6, 3:4–10). Môn đồ hóa không được biểu thị bởi 1 cuộc sống vâng phục thì không phải là môn đồ hóa theo Kinh Thánh.

Tuy nhiên, có một điều để nói rằng môn đồ hóa theo Kinh Thánh phải sinh ra sự vâng phục và cùng một điều khác làm cho sự vâng phục trở nên nền tảng của môn đồ hóa. Cũng có một điều cần nói đó là kiến thức mà không có sự vâng phục hay sự vâng phục vượt lên trên hoặc xung đột với sự hiểu biết đều là một điều nguy hiểm. Chắc chắn, đó không phải là mô hình của các sứ đồ.

Các thư tín trong Tân Ước là phần nói về phương pháp truyền giáo của các sứ đồ. Nó được viết cho những thành viên xây dựng và phát triển hội thánh bình thường được thiết lập bởi các sứ đồ (như ở Cô-rinh-tô hoặc Phi-líp) hoặc cho các hội thánh được huấn luyện bởi các môn đồ (chẳng hạn như ở Cô-lô-se) hoặc cho những tín đồ vô danh (như ở Rô-ma hoặc các hội thánh ở Tiểu Á được Sứ đồ Phi-e-rơ nhắc tới). Nhiều hội thánh trong số đó gần đây đã được thành lập và những người tiếp nhận lá thư này gần đây đã tiếp nhận Chúa (trong số đó, nhiều người không biết chữ và là những người học truyền miệng).

Ba điều có thể được quan sát từ những bức thư của các sứ đồ trong Tân Ước. Đầu tiên, sự hiểu biết thần học được xem là nền tảng của sự vâng phục trong thực tế. Điều đó đặc biệt đúng trong các sứ đồ của sứ đồ Phao-lô mà ông ấy thường bắt đầu bằng bài giảng chuyên sâu về thần học của Phúc Âm và sau đó là sự chuyển tiếp bằng từ “cho nên” để dẫn vào phần thực tiễn của những bức thư.[14] Rõ ràng là những sự thật về Đức Chúa Trời và Phúc Âm của Ngài là nền tảng thiết yếu cho sự vâng phục của Cơ Đốc nhân. Sứ đồ Phao-lô không phải chỉ đơn giản đưa ra các mạng lệnh phải tuân theo mà ông còn giải thích những chân lý thần học đã thúc đẩy và cho phép sự vâng phục trước khi cổ vũ mọi người đến với sự vâng phục đó. Điều này là điểm khác biệt quan trọng giữa việc chủ nghĩa luật pháp (legalism) và môn đồ hóa Cơ Đốc. Các khuôn mẫu Kinh Thánh đặt sự hiểu biết (các sứ điệp Phúc Âm và thần học Kinh Thánh rộng hơn ẩn ý phía sau và vây xung quanh điều ấy) và sự hiện hữu (con người là một tạo vật mới trong Đấng Christ, hiệp một với Ngài và được ngự trị bởi Đức Thánh Linh) là các nền tảng cần thiết cho việc làm chứ không phải là thứ yếu hay xa lạ với nó.

Thứ 2, các thư tín của những sứ đồ trong Tân Ước trình bày thần học sâu sắc dành cho các Cơ Đốc Nhân bình thường, trong đó nhiều người mới tiếp nhận Chúa. Sách Rô-ma không phải viết cho các nghiên cứu sinh hay thậm chí chỉ cho những người lãnh đạo hội thánh. Rõ ràng sứ đồ Phao-lô nghĩ rằng nội dung của sách Rô-ma quan trọng đối với những tín đồ phổ thông và thậm chí những người vừa tiếp nhận cần phải hiểu. Không hề có những việc như là đặt gánh nặng cho các Cơ Đốc Nhân trẻ bằng những giáo lý Kinh Thánh nặng nề. Quan tâm chủ đề thần học lớn của Kinh Thánh chưa cần thiết đối với các tín đồ mới là xem nhẹ những gì Đức Thánh Linh, thông qua các môn đồ, nghĩ là cần thiết cho các tân tín hữ ở các hội thánh mới. Thật sự thì sự hiểu biết chỉ làm cho tự hào và tình yêu thương thì gây dựng (I Cô-rinh-tô 8:1). Tuy nhiên, trong bối cảnh này, “sự hiểu biết” mà sứ đồ Phao-lô cảnh báo những người ở Cô-rinh-tô trong phân đoạn này không thật sự là sự hiểu biết về Kinh Thánh hoặc thần học Kinh Thánh mà là một hình thức hiểu biết bằng cách suy luận không dựa trên Kinh Thánh. Thần học Kinh Thánh, đã được dạy như sứ đồ Phao-lô đã dạy, dẫn đến sự khiêm nhường, sự thờ phượng và yêu thương. Nó cũng dẫn tới một cuộc sống vâng phục. Che giấu các tín đồ thuộc bất kỳ độ tuổi nào về lời dạy đầy đủ của Đức Chúa Trời hoặc xem những giáo lý của Kinh Thánh là một gánh nặng không cần thiết không hề có trong Kinh Thánh (Công-vụ-các-sứ-đồ 20:27).

Thứ 3, phần lớn sự vâng phục được chỉ thị bởi Tân Ước là hoàn toàn có bản chất trần tục. Thực tế có rất ít việc truyền giáo, và thành lập hội thánh, trong khi nói rất nhiều về cuộc sống đời thường. Từ những mạng lệnh được truyền trong Tân Ước, rõ ràng rằng Đức Chúa Trời rất quan tâm đến việc chúng ta yêu thương những người khác và những người lân cận của chúng ta, lời nói phải chân thật và có tính khích lệ, việc chúng ta cư xử yêu thương, tôn kính, tôn trọng với các thành viên trong gia đình, cấp trên, công nhân và nhà nước, việc chúng ta làm việc giỏi và chăm chỉ, việc chúng ta giải quyết tiền bạc như một quản gia trung tín và duy trì sự hoà hợp với thân thể của Đấng Christ. Mọi người sẵn sàng để đưa ra 1 lý do cho hy vọng đó nhưng không phải ai cũng được ơn kêu gọi và được ban ơn để làm người thành lập và phát triển hội thánh, người giảng dạy kinh thánh hay làm người lãnh đạo hội thánh. Dựa vào Thượng Đế là ai, và Ngài đã làm gì cho chúng ta trong Đấng Christ, môn đồ hóa phải giống như Tân Ước nhấn mạnh về cuộc sống yêu mến Chúa trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Tất cả mọi người kêu gọi ra đi làm chứng và một số được kêu gọi để thành lập hội thánh mới và thậm chí truyền bá Phúc Âm tới những nơi chưa biết đến nhưng sự tập trung chính của các phần ứng dụng trong Tân Ước là cuộc sống bình thường của những tín đồ phổ thông.

Việc kết nối giữa sự hiểu biết và sự vâng phục được thiết lập rõ trong Rô-ma 12:1-2. Sứ đồ Phao-lô bắt đầu lời kêu gọi của ông bằng từ “cho nên”, đề cập đến những điều trong thư tín của ông. Ngữ cảnh trực tiếp trong sự thảo luận của ông là I-sơ-ra-ên, sự cứu rỗi, các hội thánh và kết thúc bằng bài ca ngợi chúa Giê-su dựa trên sự khôn ngoan và hiểu biết về Đức Chúa Trời. Bối cảnh lớn hơn trong toàn bộ bài phân tích của ông về Phúc Âm từ đầu thư tín tới điểm này và theo tham khảo trong Rô-ma 12:1 về “sự thương xót của Đức Chúa Trời” làm cho nó thích hợp đây là những gì sứ đồ Phao-lô suy nghĩ trong tâm trí. Sự thương xót của Đức Chúa Trời như đã được giải thích trong tất cả “các giáo lý lớn trong Kinh Thánh” của sách Rô-ma 1-11 là nền tảng cho cuộc sống vâng phục hết lòng như đã được mô tả trong phần còn lại của thư tín này.

Sự kết nối giữa sự vâng phục và đời sống lý trí thậm chí được nói rõ ràng hơn trong câu sau. Sứ đồ Phao-lô yêu cầu đọc giả “phải được biến đổi bằng cách làm làm mới tâm trí mình” đối nghịch với việc sống theo thế gian này và ông cũng đặt ra điều kiện để có thể thử và cho biết ý định của Đức Chúa Trời. Bạn nghĩ như thế nào thì sẽ sống như vậy. Tội lỗi ảnh hưởng đến cách nghĩ của con người và làm cho họ không thể hiểu được những điều của Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:11, I Cô-rinh-tô 2:14, II Cô-rinh-tô 4:4). Một phần sứ mệnh của sứ đồ Phao-lô bao gồm việc tiêu trừ các tranh cãi và bắt hết những ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ (II Cô-rinh-tô 10:5). Phần áp dụng thực tiễn của thư tín gởi cho hội thánh Rô-ma được tóm tắt bởi lời kêu gọi tín đồ dâng đời sống của họ như của lễ sống, thánh khiết và làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Cuộc sống hoàn toàn nên thánh và tích cực được giải thích rõ ràng trong tất cả những điều theo sau. Một nền tảng cho một cuộc sống như vậy được tìm thấy trong thần học của 11 đoạn đầu trong sách và công cụ thiết yếu để sống một cuộc sống như vậy là đổi mới tâm trí có thể thấy được thật sự theo phương cách của Đức Chúa Trời, sống theo lời của Đức Chúa Trời và không còn làm theo điều của thế gian này. Sự vâng phục là điều thiết yếu không phải thắc mắc. Tuy nhiên, để có được sự vâng phục như vậy đòi hỏi một đời sống được biến đổi bởi Đức Thánh Linh và thay đổi tâm trí được lấp đầy bởi chân lý lời của Đức Chúa Trời.

Vậy thì chúng ta nên nghĩ gì về môn đồ hóa dựa trên sự vâng phục? Trước hết, môn đồ hóa theo Kinh Thánh chắc chắn dạy và chờ đợi sự vâng phục. Môn đồ hóa dựa vào kiến thức mà không kỳ vọng vào sự thay đổi thái độ và hành động theo những tiến bộ của Phúc Âm thì không phải là môn đồ hóa thật sự. Tuy nhiên, sự vâng phục không phải là nền tảng (basis) của môn đồ hóa và chỉ mình nó thì không phải là yếu tố chính của môn đồ hóa. Nền tảng của môn đồ hóa là Phúc Âm về sự cứu rỗi trong Đức Chúa Giê-su Christ mà chính nó bao gồm sự giảng dạy đầy đủ của Kinh Thánh trong tất cả phạm trù giáo lý. Cho nên môn đồ hóa có 1 nền tảng thuộc về thần học và nền tảng này phải được áp dụng trong từng bước của con đường giữ môn đồ hóa khỏi việc trở thành một hình thức chủ nghĩa luật pháp (legal obedience). Yếu tố tiếp theo của môn đồ hóa là một sự chuyển hoá sự hiện hữu (being). Bạn không thể môn đồ nếu bạn không được tái sinh, hiệp nhất với Đấng Christ và tràn ngập Đức Thánh Linh. Việc chuyển hoá sự sống đó cũng phải được áp dụng trong từng bước của môn đồ hóa vì không thể vâng phụctheo Phúc Âm mà không có nó.

Cho nên môn đồ hóa theo Kinh Thánh bao gồm sự hiểu biết, sự hiện hữu, và thực hành (knowing, being, doing) trong một tổng thể không thể tách rời. Cả ba phải được chú trọng ngang nhau. Loại bỏ hoặc nhấn mạnh một trong ba điều sẽ gây ra tổn hại nghiêm trọng cho tổng thể. Bất kỳ môn đồ hóa dựa vào sự vâng phục nào coi thường sự quan trọng của thần học của Kinh Thánh hay sự hoà hợp với Đấng Christ và quyền năng của Thánh Linh đều là không đúng theo Kinh Thánh. Để tránh cho môn đồ hóa biến thành một hình thức chủ nghĩa luật pháp (legalism) làm cho theo đạo Cơ Đốc (một Cơ Đốc” Shariah hay Talmud chẳng hạn) tốt hơn, hãy nghĩ môn đồ hóa dựa trên Phúc Âm dẫn tới sự vâng phục dựa trên Phúc Âm.

Chú thích

 

[1] George Patterson and Richard Scroggins, Church Multiplication Guide (Pasadena: William Carey Library, 2002).

[2] Sách như trên, 21.

[3] Sách như trên, 22.

[4] Sách như trên (nhấn mạnh nguyên bản).

[5] Xem, ví dụ, Jonathan Pennington, Reading the Gospels Wisely (Grand Rapids: Baker Academic, 2012), chương 12, “The Gospels and the Archway of the Canon.”

[6] Patterson và Scroggins, 25 (nhấn mạnh nguyên bản).

[7] Sách như trên, 26 (nhấn mạnh nguyên bản).

[8] Sách như trên, 226.

[9] Sách như trên, 224.

[10] Steve Smith and Ying Kai, T4T: A Discipleship Re-Revolution (Monument: WIGTake Resources, 2011).

[11] Sách như trên, 71.

[12] Sách như trên, 79 (nhấn mạnh nguyên bản).

[13] Sách như trên, 259–281.

[14] Xem, ví dụ, Rom 12:1, Eph 4:1, Col 2:16.